Hiển thị các bài đăng có nhãn Kỹ thuật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kỹ thuật. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 20 tháng 10, 2014

Đặc điểm khí hậu thuỷ văn và một số yếu tố môi trường vùng ven biển thái Bình

1. Đặc điểm khí hậu thuỷ văn
- Vùng biển Thái Bình có địa hình thấp và bằng phẳng, khí hậu tương đối đồng nhất. ở đây có chế độ bức xạ và có số giờ nắng thuộc vào loại trung bình của cả nước. Nền nhiệt tương đối cao thuộc chế độ nhiệt nóng và phân hoá rõ rệt thành hai mùa nóng, lạnh phù hợp với hai mùa gió: Gió Đông Nam, gió Đông Bắc. Mùa nóng  kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9, nhiệt độ không khí dao động trung bình từ 24,7- 29,4⁰, tháng 7 có nhiệt độ không khí trung bình lớn nhất là 29,4⁰. Mùa này thích hợp sinh vật phát triển, trong đó có các đối tượng nuôi thuỷ sản. Tuy nhiên, cũng là những tháng có lưu lượng nước mưa lớn nhất:180-280 mm/ tháng, trùng với mùa bão lũ, kết hợp với  mưa lũ từ thượng nguồn đổ về qua 2 hệ thống sông Hồng và sống Thái Bình chẩy ra cửa sông với khối lượng lớn làm thay đổi yếu tố môi trường như giảm độ mặn đột ngột, độ đục tăng cao, ảnh hưởng đến đối tượng nuôi, đồng thời cũng  bổ sung thêm nguồn thức ăn tự nhiên cho vùng bãi triều ven biển. Mùa lạnh kéo dài 3- 4 tháng, từ tháng 12 năm trước đến tháng 3 tháng 4 năm sau, nhiệt độ không khí dao động khoảng 17,5⁰-17,7⁰, tháng 1 là tháng có nhiệt độ không khí lạnh nhất, đạt trung bình < 17,5⁰, lương mưa thấp chỉ đạt 15,8- 43,4mm, kết hợp với lượng nước ở thượng nguồn bị chặn lại do giữ nước trên các đập hồ chứa thuỷ lợi làm cho lưu lượng nước đổ xuống từ thượng nguồn giảm mạnh, dẫn đến nguồn thức ăn tự nhiên bổ sung cho vùng bãi triều giảm.


- Bão: Là khu vực chịu ảnh hưởng của bão, trung bình mỗi năm có từ 2-3 cơn bão đổ vào, xuất hiện từ tháng 4 đến tháng 10 nhưng nhiều nhất vào tháng 8 hàng năm. Trong thời gian có bão, lượng mưa lớn và đạt trung bình từ 200-300 mm chiếm 30% tổng lượng mưa toàn mùa mưa, dẫn đến môi trường bị ngọt hoá, pH giảm, độ đục tăng trên diên rộng, ảnh hưởng đến chất lượng nước nuôi trồng thuỷ sản. 
- Chế độ thuỷ triều: Vùng ven biển Thái Bình có chế độ nhật triều thuần nhất, tính nhật triều thuần nhất giảm từ Bắc xuống Nam. Biên độ dao động tối đa 3,0-3,5m, trung bình 1,7-1,9m và tối thiểu 0,3-0,5m. Mực nước triều lớn nhất hàng năm có thể đạt 4,0m và thấp nhất khoảng 0,8m. Hàng tháng có  5-7 ngày có 2 lần nước lớn và 2 lần nước ròng, mỗi chu kỳ kéo dài từ 11-13 ngày với biên độ dao động ngày đêm từ 1,5m đến 3,0m, giữa chu kỳ là các kỳ nước kém, mỗi kỳ kéo dài 2-3 ngày với biên độ dao động nhỏ 0,5- 0,8m. Số ngày triều cường từ 3,0m trở lên có từ 152 đến 176 ngày trong năm.
2. Một số yếu tố môi trường 
- Độ mặn: Vào mùa lũ độ mặn nước biển ở ven biển giảm xuống thấp, thay đổi trung bình từ 9-17‰ . Vào các tháng mùa cạn tăng lên 23-32‰ .
- Độ trong: Do có nhiều cửa sông đổ  ra biển, nước ở đầy thường khá đục, độ trong chỉ đạt 0,2-0,3m.
- Độ pH: Giá  trị pH trung bình 7,9 - 8,3 thích hợp cho nuôi trồng thủy sản
- Ôxy hoà tan: Hàm lượng ôxy hoà tan phân bố không đồng đều, tuy thuộc vào mức độ ô nhiễm của nước mà hàm lượng ôxy hoà tan có khác nhau đối với từng khu vực.
Tóm lại: Khí hậu thuỷ văn và một số yếu tố môi trường vùng ven biển tỉnh   Thái Bình nhìn chung đều thuận lợi cho nuôi trồng thuỷ sản. Nắm bắt được quy luật tự nhiên về khí hậu thuỷ văn để xác định thời vụ thả giống, cỡ thu hoạch hợp lý, nhằm giảm thiểu sự thiệt hại do thời tiết, khí hậu gây ra.

Xem thêm

Đặc điểm sinh học của Ngao

1. Phân bố:
Ngao phân bố trên các bãi biển, trong các eo vịnh có đáy là cát pha bùn (cát chiểm 60-80%), sóng gió nhẹ, có lượng nước ngọt nhất định chảy vào. Ở nơi đáy nhiều bùn ngao dễ bị chết ngạt, nơi đáy cát chiếm 100% ngao bị khô nóng.
- Ngao sống ở trung, hạ triều cho đến độ sâu tới 10m ở đáy biển.
- Ngao là động vật nhuyễn thể rộng nhiệt. Thích nghi được với nhiệt độ từ 5-35oC, ở nhiệt độ 18-30oC sinh trưởng tốt nhất. Giới hạn chịu nhiệt cao là 43oC. Khi nhiệt độ lên tới 44oC ngao chết 50%, ở 45oC chết toàn bộ. Ở nhiệt độ 37,5oC sống được 10,4 giờ, 40oC sống được 5,3 giờ, 42oC sống được 1,5 giờ. Khi nhiệt độ giảm xuống 0oC, các tơ mang ngừng hoạt động. Ở nhiệt độ âm 2-3oC sau 3 tuần chỉ chết 10%.
- Ở độ mặn 19-26‰ ngao sinh trưởng tốt. Ngao có sức chịu đựng tốt ở tỷ trọng cao, ở trọng 1,029 chỉ có một số ít bị chết.


Trong môi trường tự nhiên nếu độ mặn biến đổi đột ngột sẽ gây chết hàng loạt. Những vùng bị ảnh hưởng nước lũ kéo dài gây ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng của ngao, có thể gây chết hàng loạt. Những vùng này thường không có ngao phân bố.
- Ngao là loài sống đáy, chân phát triển để đào cát vùi mình xuống dưới. Để hô hấp và lấy mồi ăn ngao thò vòi nước lên mặt bãi hình thành một lỗ hình bầu dục màu vàng nhạt, nhìn lỗ có thể biết được chỗ ở của ngao. Vòi ngao ngắn nên không thể chui sâu, thường chỉ cách mặt đáy vài cm. Trời lạnh ngao xuống sâu hơn nhưng không quá 10cm (hình 4).
- Hiện tượng ngao di chuyển nổi trong nước: Khi gặp biểu hiện môi trường không thích hợp, ngao có thể nổi lên trong nước và di chuyển tới vùng khác bằng cách tiết ra một túi nhầy hoặc một dải chất nhầy để giảm nhẹ tỷ trọng cơ thể và nổi lên được trong nước và theo dòng nước triều di chuyển tới nơi khác. Ngao có thể nổi lên ở độ cao 1,2m. Ngao thường di chuyển vào mùa hạ, mùa thu. Mùa hạ ngao sống ở vùng triều cao, bãi cạn chịu thời gian chiếu nắng dài làm cho bãi cát nóng lên ngao phải di chuyển theo nước triều rút xuống vùng sâu hơn. Mùa thu nhiệt độ hạ dần, gió thổi liên tục làm cho nhiệt độ giảm nhanh ngao không chịu được phải di chuyển xuống vùng sâu. Mặt khác, sự di chuyển của ngao cũng có quan hệ tới sinh sản. Khi ngao lớn tới 5-6cm ở giai đoạn sinh dục thành thục ngao thường di chuyển nhiều.
Đặc điểm này phải được hết sức chú ý, giữ không cho ngao đi mất. Người ta thường dùng dây cước sợi 3 x 3 căng ở đáy 3cm theo chiều vuông góc với đường nước triều rút, dây căng sẽ cắt đứt tuyến nhầy của ngao và ngao sẽ bị chìm xuống đáy. Phương pháp này rất có hiệu quả với ngao cỡ 3-5cm.

2. Tính ăn: 
Phương thức bắt mồi ăn của ngao là bị động. Khi triều dâng ngao thò vòi lên cát để lọc mồi ăn, chọn những hạt, vụn hữu cơ có cỡ to nhỏ thích hợp là được. Thức ăn chủ yếu của ngao là tảo khuê, các mảnh vụn và chất vẩn cặn hữu cơ.

3. Sinh trưởng: 
Ngao dầu 1 tuổi có khối lượng 5-7g, 2 tuổi có khối lượng 12g.
Thời gian lớn nhanh vào tháng 4-9, lúc này nhiệt độ thích hợp. Hai năm đầu ngao lớn nhanh sau chậm dần. Ngao dầu có cỡ cá thể lớn tới 13cm, cao 11cm, dầy 5,8cm.
Sức lớn của ngao có liên quan chặt chẽ với vùng phân bố có nhiều hay ít mồi ăn, vùng cửa sông có nhiều thức ăn, hàm lượng oxy dồi dào ngao lớn nhanh, ngao sống ở vùng triều thấp lớn nhanh hơn ở vùng triều cao.

4. Sinh sản: 
Ngao đực, cái là dị thể. Trứng và tinh trùng phóng ra thụ tinh trong nước. Ngao 1 tuổi có thể thành thục. Nhìn bề ngoài không phân được đực cái, nhưng khi tuyến sinh dục thành thục có thể dựa vào màu sắc tuyến sinh dục để phân biệt. Ngao cái có màu vàng nhạt, ngao đực có màu trắng sữa. Mặt khác ở ngao đực đã thành thục tốt khi làm vỡ phần mềm ở dưới bụng tinh dịch sẽ chảy ra nhưng ở con cái dù thành thục ở mức độ tốt cũng không có hiện tượng chảy ra.
Mùa sinh sản của ngao vào hè thu; lượng trứng của ngao có quan hệ với cỡ cá thể to nhỏ. Con lớn có tới 600 vạn trứng, ngao có khối lượng 5g lượng ôm trứng vượt quá 20 triệu hạt. Ngao có khối lượng 5,4g mỗi lần đẻ 40 vạn hạt.
Phương thức sinh sản của ngao là phần sau của thân thò vòi lên mặt nước. Tinh trùng, trứng rụng vào xoang rồi qua vòi nước từ từ tuôn ra. Sau đó khuyếch tán trong nước biển. Thời gian đẻ của một con cái kéo dài tới 1 giờ. Trong bể đẻ khi ngao đẻ rộ làm cho nước biển trong sạch trở nên rất vẩn đục. Phương thức đẻ của ngao rất độc đáo dù là triều cường hay triều nhỏ, ban ngày hay ban đêm đều có thể đẻ trứng. Ngao đẻ trứng phân theo đợt, thời gian cách nhau có khi là nửa tháng và có khi tới một tháng.

5. Sự phát triển của phôi: 
Trứng thụ tinh phát triển thành ấu trùng, qua 10 ngày sống phù du sau đó mới chuyển sang sống bám.
Ở nhiệt độ 25oC thụ tinh sau 15 phút xuất hiện thể cực thứ nhất, 20 phút sau xuất hiện thể cực thứ hai, tiếp đó bắt đầu phân cắt tế bào. Lần phân cắt thứ nhất cắt dọc từ cực động vật xuống cực thực vật thành hai khối cầu to nhỏ không bằng nhau, qua phân cắt nhiều lần, tế bào hình thành dạng xoáy ốc từng bậc từng bậc. Sau thời kỳ phân cắt thành 64 tế bào, phôi kéo dài khoảng 70-80µm, thành hình cầu, xung quanh có nhiều lông tơ bắt đầu quay tròn trong nước là thời kỳ phôi nang, 3 giờ sau xuất hiện vòng lông tơ, ở giữa có bó tiêm mao gọi là trùng bánh xe (Trochophora) dài khoảng 80µm, 5-6 giờ sau xuất hiện ấu trùng vỏ, 18-24 giờ sau hình thành ấu trùng hình chữ D, rồi thành ấu trùng đỉnh vỏ. Ở nhiệt độ 25oC, tỷ trọng nước 1020, sau 11 ngày phát dục của phôi hình thành sò non, biến thái sống bám.
Ngao dầu đẻ vào mùa hạ, sau một thời gian phát triển và sinh trưởng có vỏ dài 1cm. Mùa xuân năm sau dài 2-3cm và nuôi được một năm lớn tới 4-6cm.

Xem thêm

Hình thái và cấu tạo của Ngao

1. Hình thái: 
Vỏ ngao có hình tam giác, hai vỏ to bằng nhau, vỏ dày và chắc. Chiều dài vỏ lớn hơn chiều cao vỏ. Đỉnh vỏ nhô lên uốn cong về phía bụng. Mặt vỏ phồng lên, nhẵn bóng. Vòng sinh trưởng mịn và rõ. Ngoài vỏ ngao dầu có lớp bì màu nâu. Từ đỉnh vỏ xuống có nhiều vành màu nâu. Ở nghêu mặt ngoài của vỏ màu vàng sữa, ít cá thể màu nâu, vòng sinh trưởng thô. Mầu sắc của vỏ thường biến đổi thẫm hay nhạt theo môi trường nuôi. Phía trước của đỉnh vỏ mặt nguyệt thuôn dài. Phía sau đỉnh vỏ có đai nề màu đen. Mặt trong của vỏ màu trắng, vết cơ khép vỏ trước nhỏ, hình bán nguyệt, vết cơ khép vỏ sau to hình trứng tròn.
Hình dáng bên ngoài của ngao

2. Cấu tạo trong: 
a) Màng áo: hai tấm màng áo mỏng bao phủ toàn bộ nội tạng của ngao. Viền mép màng áo có nhiều mấu lồi cảm giác. Phía mép của hai màng áo gần bụng dính lại, hình thành hai vòi nước: vòi phía bụng là vòi nước vào, vòi nằm phía lưng là vòi nước ra. Vòi nước của ngao to và ngắn, vòi nước vào dài hơn vòi nước ra. Ngao vùi thân trong cát và thò vòi nước lên trên cát để hô hấp, bắt mồi và bài tiết.
Cấu tạo bên trong của một con ngao

b) Hệ tiêu hoá, hô hấp:
Miệng ngao là một rãnh ngang nằm ở phía trước cơ thể, bên miệng có tấm môi ngoài, môi trong, có tiêm mao dùng để chuyển vận và chọn lọc thức ăn. Thực quản và dạ dày mỏng. Xung quanh dạ dày có các túi “nang” tiêu hoá, có ống thông với dạ dày.
Mang là cơ quan hô hấp chủ yếu, ngoài ra các vi mạch trên màng áo ngoài, các vi mạch trên môi cũng có tác dụng bổ trợ cho hô hấp.
c) Hệ sinh dục:
Ngao phân đực, cái riêng. Khi tuyến sinh dục thành thục ở con cái có màu vàng, con đực có màu trắng sữa phủ khắp nội tạng

Xem thêm

Kỹ thuật nuôi ngao thương phẩm

Ngao là loài thủy sản có tiềm năng lớn ở vùng triều nước ta, phân bố dọc bờ biển từ Bắc vào Nam. Kỹ thuật nuôi không phức tạp, chu kỳ ngắn, đầu tư ít lại có giá trị cao. Nuôi ngao còn góp phần làm sạch môi trường đáy vùng triều ven biển. 
Bãi nuôi
Ngao có thể sống được ở vùng trung, hạ triều đến nơi có độ sâu 5 - 10m, bãi nuôi thường là bãi triều, các eo vịnh có sóng nhỏ, nơi có nguồn nước ngọt nhất định chảy vào. Đáy là cát bùn (trong đó cát chiếm 70 - 80%), độ mặn 15 – 25‰, thời gian phơi bãi không quá 4 - 5giờ/ngày.
Chuẩn bị bãi nuôi
Quây lưới quanh bãi nuôi
Nguyên liệu gồm lưới xăm cũ (không bị rách) loại Polyetylen, cỡ mắt lưới 2a - 1cm, cao 80cm; cọc tre hoặc cành cây, ngọn phi lao đường kính 0,5cm, dài 1m; cọc tre hoặc gỗ loại lớn... Lưới vùi dưới mặt đất sâu 30 cm và dùng các cọc nhỏ nâng lưới lên so với mặt bãi 60 - 70cm. Cứ 1,5m cắm 1 cọc loại nhỏ và 10m cắm một cọc loại lớn để giăng lưới.
Cải tạo, cày xới mặt bãi: Vệ sinh, thu gom đá sỏi, mảnh sành sứ, vỏ hộp, bao bì nylon... Để ngao con dễ dàng chui xuống sâu, tránh hiện tượng ngao bị nước triều cuốn trôi, trước khi thả cần cày xới mặt bãi. Khi triều rút cạn dùng bừa hoặc cào xới tơi bề mặt bãi khoảng 5 - 10cm, san phẳng mặt bãi. 
Đánh luống: Luống có cùng hướng với dòng chảy của thuỷ triều khi lên xuống. Mỗi luống rộng 1,5m, giữa hai luống làm một lối đi nhỏ để tránh dẫm lên bãi sau khi thả ngao. Nếu ở các khu vực nuôi ngao có thời gian phơi bãi quá 5 giờ /ngày, cần có biện pháp giữ nước, tạo độ ẩm cho bãi nuôi. Trong quá trình cải tạo mặt bãi, cần cày xới cẩn thận. Đồng thời phải căng dây trên mặt bãi để tránh ngao di chuyển đi nơi khác.
Thả con giống và mật độ nuôi
Cỡ giống 5 vạn con/kg thả 100kg/1.000 m2; 4 vạn con /kg thả 110kg/1.000 m2; 3 vạn con/kg thả 140kg/1.000 m2; 2 vạn con/kg thả 180kg/1.000 m2 ; 
Quản lý và chăm sóc
Thức ăn của ngao là các động -thực vật phù du, mùn bã hữu cơ trong nước nên không cần cho ăn trong quá trình nuôi. Tuy nhiên, ngao rất mẫn cảm với sự thay đổi đột ngột của môi trường và có thể chết hàng loạt nếu bị ngọt hoá, nhiệt độ nước cao quá 32 độ C và kéo dài nhiều ngày; nguồn nước bị ô nhiễm...
Khi gặp điều kiện bất lợi, ngao thường trồi lên mặt đáy, tiết chất nhầy trong suốt, các bọt khí trong quá trình hô hấp bám vào đó tạo thành cái dù nâng ngao lơ lửng trong nước và được sóng gió đưa đi nơi khác. Vì vậy, cần nhanh chóng có biện pháp di chuyển kịp thời. Khi nước triều rút, phải nhặt bỏ rác thải, vỏ ngao chết trong bãi để tránh làm ô nhiễm bãi nuôi.
Thu hoạch
Sau khoảng 15 tháng nuôi có thể tiến hành thu hoạch ngao. Thời gian thích hợp nhất là cuối mùa xuân hoặc đầu mùa thu.
Thu hoạch ngao ở Đông Minh (Tiền Hải-Thái Bình).
Để thu hoạch, bà con có thể dùng cọc gỗ đường kính 4 - 5cm, dài 50 - 70cm đóng trên mặt bãi, mỗi cọc cách nhau khoảng 1,5m, sau một thời gian ngao sẽ tập trung xung quanh cọc gỗ nên rất dễ thu hoạch. Cũng có thể dùng con lăn đá lăn qua lại trên bề mặt bãi, ngao ở phía dưới do bị ép sẽ phun nước lên, từ chỗ có phun nước có thể bắt ngao. Tuy nhiên, nếu nuôi mật độ cao thì phương pháp này thường không hiệu quả. Khi nước triều rút gần cạn, cũng có thể dùng chân đạp nước, do sức ép của dòng nước ngao sẽ trồi lên mặt bãi.
Thuý Anh
Theo tài liệu của Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư Quốc gia

Xem thêm

Môi trường sống của ngao

Ngao phân bố trên các bãi biển, trong các eo vịnh có đáy là cát pha bùn (cát chiểm 60-80%), sóng gió nhẹ, có lượng nước ngọt nhất định chảy vào. Ở nơi đáy nhiều bùn ngao dễ bị chết ngạt, nơi đáy cát chiếm 100% ngao bị khô nóng.


- Ngao sống ở trung, hạ triều cho đến độ sâu tới 10m ở đáy biển.

- Ngao là động vật nhuyễn thể rộng nhiệt. Thích nghi được với nhiệt độ từ 5-35oC, ở nhiệt độ 18-30oC sinh trưởng tốt nhất. Giới hạn chịu nhiệt cao là 43oC. Khi nhiệt độ lên tới 44oC ngao chết 50%, ở 45oC chết toàn bộ. Ở nhiệt độ 37,5oC sống được 10,4 giờ, 40oC sống được 5,3 giờ, 42oC sống được 1,5 giờ. Khi nhiệt độ giảm xuống 0oC, các tơ mang ngừng hoạt động. Ở nhiệt độ âm 2-3oC sau 3 tuần chỉ chết 10%.

- Ở độ mặn 19-26‰ ngao sinh trưởng tốt. Ngao có sức chịu đựng tốt ở tỷ trọng cao, ở trọng 1,029 chỉ có một số ít bị chết.

Trong môi trường tự nhiên nếu độ mặn biến đổi đột ngột sẽ gây chết hàng loạt. Những vùng bị ảnh hưởng nước lũ kéo dài gây ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng của ngao, có thể gây chết hàng loạt. Những vùng này thường không có ngao phân bố.

- Ngao là loài sống đáy, chân phát triển để đào cát vùi mình xuống dưới. Để hô hấp và lấy mồi ăn ngao thò vòi nước lên mặt bãi hình thành một lỗ hình bầu dục màu vàng nhạt, nhìn lỗ có thể biết được chỗ ở của ngao. Vòi ngao ngắn nên không thể chui sâu, thường chỉ cách mặt đáy vài cm. Trời lạnh ngao xuống sâu hơn nhưng không quá 10cm.

- Hiện tượng ngao di chuyển nổi trong nước: Khi gặp biểu hiện môi trường không thích hợp, ngao có thể nổi lên trong nước và di chuyển tới vùng khác bằng cách tiết ra một túi nhầy hoặc một dải chất nhầy để giảm nhẹ tỷ trọng cơ thể và nổi lên được trong nước và theo dòng nước triều di chuyển tới nơi khác. Ngao có thể nổi lên ở độ cao 1,2m. Ngao thường di chuyển vào mùa hạ, mùa thu. Mùa hạ ngao sống ở vùng triều cao, bãi cạn chịu thời gian chiếu nắng dài làm cho bãi cát nóng lên ngao phải di chuyển theo nước triều rút xuống vùng sâu hơn. Mùa thu nhiệt độ hạ dần, gió thổi liên tục làm cho nhiệt độ giảm nhanh ngao không chịu được phải di chuyển xuống vùng sâu. Mặt khác, sự di chuyển của ngao cũng có quan hệ tới sinh sản. Khi ngao lớn tới 5-6cm ở giai đoạn sinh dục thành thục ngao thường di chuyển nhiều.

Đặc điểm này phải được hết sức chú ý, giữ không cho ngao đi mất. Người ta thường dùng dây cước sợi 3 x 3 căng ở đáy 3cm theo chiều vuông góc với đường nước triều rút, dây căng sẽ cắt đứt tuyến nhầy của ngao và ngao sẽ bị chìm xuống đáy. Phương pháp này rất có hiệu quả với ngao cỡ 3-5cm.

Xem thêm

Liên hệ

Nếu có bất kì thắc mắc tại sao bạn không liên hệ ngay với chúng tôi



Website được xây dựng bởi Trí Nguyễn